• Yêu Cá Tính

    Yêu Cá Tính

    Tôi luôn tìm một nét riêng.

  • Sắc Màu Đa Dạng

    Sắc Màu Đa Dạng

    Bạn luôn tìm thấy sắc màu bạn yêu mến

  • Độc Đáo

    Độc Đáo

    Luôn có những sản phẩm độc đáo với cá tính rất riêng

  • Truyền Thống và Hiện Đại

    Truyền Thống và Hiện Đại

    Đem lại không gian truyền thống trong ngôi nhà hiện đại

  • Dẻo dai và Bền đẹp

    Dẻo dai và Bền đẹp

    Sản phẩm được làm cẩn thận, có tuổi bền cao.

  • Mẫu Mã Đa Dạng

    Mẫu Mã Đa Dạng

    Sản phẩm Mây tre đan thật đa dạng nhờ sự sáng tạo của các nghệ nhân

Hiển thị các bài đăng có nhãn may tre dan. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn may tre dan. Hiển thị tất cả bài đăng

Cách bảo quản đồ nội thất mây tre đan

Hiện nay có rất nhiều gia đình chọn đồ nội thất bằng mây tre đan nhưng chưa thực sự biết cách bảo quản chúng như thế nào. Quý Hạnh xin đưa ra một vài lời khuyên cho bạn để giữ đồ mây tre luôn đẹp.


Có một số vấn đề bạn có thể lưu ý khi dùng loại bàn ghế bằng mây tre. Chống ẩm mốc cho bàn ghế bằng mây treTránh để nước đổ vào sản phẩm mây tre, lau sản phẩm thường xuyên
Có 2 nguyên nhan dẫn đến việc đồ mây tre đan bị ẩm mốc là: do các bước sơ chế, hoàn thiện sản phẩm không được tốt hoặc là do môi trường sử dụng có độ ẩm quá lớn.

Để tránh cho đồ mây tre đan bị ẩm mốc bạn có thể:
-  Dùng sản phẩm trong môi trường điều hòa, nhằm tạo môi trường khô thoáng.
- Tránh để nước đổ vào sản phẩm mây tre, lau sản phẩm thường xuyên.
Nếu muốn kỹ lưỡng hơn nữa thì phun khử trùng trước khi sử dụng để diệt hết mầm mống mốc, mọt ở trong sản phẩm (chú ý là thuốc phun khử trùng là có hại cho sức khỏe vì vậy khi phun phải để ở nơi rộng thoáng, bọc kín sản phẩm để cho bên khử trùng phun và bọc kín trong vòng 24-48h).
Cách làm sạch đồ mây tre
Lau chùi vật dụng ít nhất 1 lần trong năm
-  Nên lau chùi bằng cây chổi nhỏ hay vải mềm, tránh cào hay chà làm xước vật dụng.
- Tránh làm đổ các loại hóa chất lên vật dụng. Nếu chẳng may bạn làm rơi một giọt mực tím lên chiếc ghế của mình, hãy nhanh chóng lau ngay để tránh mực thấm vào chất liệu vì nó sẽ rất khó tẩy xóa.
- Dùng vải mềm hay miếng xốp cao su thấm một ít nước xà phòng để lau chùi, tránh sử dụng các loại chất tẩy mạnh vì nó sẽ làm hư bề mặt cùa sản phẩm.
-  Lau chùi vật dụng ít nhất 1 lần trong năm, bạn có thể dùng máy để hút bụi bẩn ở các kẽ hở.
- Nội thất bằng tre nứa chỉ thích hợp để trưng bày trong nhà, tránh để chúng tiếp xúc trực tiếp với nước mưa hay ánh nắng mặt trời.


Xem thêm

Ngôi nhà nổi bật hơn nhờ nội thất mây tre đan

Những ngôi nhà sử dụng đồ nội thất mây tre đan cần có diện tích rộng, khô ráo và ít ẩm mốc. Sản phẩm nội thất mây tre đan phổ biến nhất là bàn ghế, tủ đồ, giỏ đựng. Ngoài ra, mây tre đan còn được dùng làm mành tre, vách ngăn. Với ưu thể gọn nhẹ, các món đồ này thường dễ dàng di chuyển.

Mây tre thường dễ dàng kết hợp với các chất liệu khác như sắt, đồng, gỗ, nệm vải hay lụa tơ tằm tạo.Bộ bàn ăn bằng mây kết hợp với nến, gương và đèn chùm làm tăng thêm nét cổ điển cho phòng ăn. Hay đơn giản với những chiếc ghế bên hiên nhà sẽ mang tới cho bạn những khoảnh khắc bình yên ngồi thưởng thức ly café và điểm tâm sáng. Hiện nay, nhiều mẫu bàn ghế mây tre đều được cách điệu và chú trọng tới nghệ thuật để làm tăng nét mới lạ cho không gian sống.

Với phòng khách, một bộ sofa trang nhã và tinh tế với đệm dày êm ái mang lại cảm giác lãng mạn mà không kém phần hiện đại.

Phòng ngủ cũng là nơi dễ dàng tìm thấy sự duyên dáng của loại vật liệu này qua những chiếc giường mây, tủ đồ, bàn trang điểm hay ghế nằm thư giãn. Bàn tay khéo léo và tài hoa của các nghệ nhân thể hiện trong mỗi sản phẩm mang tới sự thân thương và ấm áp cho gian phòng.

Nội thất mây tre đan đa dạng về chủng loại và hình thức.

Nếu được xử lý và bảo quản đúng kỹ thuật, các sản phẩm mây tre đan không những có giá trị sử dụng thực tế mà còn có độ bền hàng trăm năm. Khi lựa chọn các sản phẩm bằng mây, cần chú ý chọn loại có sợi mây thon, dài và đều màu. Bề mặt sản phẩm phải trơn, bóng, đặc biệt phần khớp nối không thô ráp hay lồi lõm.
Nội thất mây tre đan đa dạng về chủng loại và hình thức.
Các sản phẩm mây tre đan thường rất kỵ nước vì dễ bị ẩm mốc, vì vậy nên tránh để dính nước mưa. Bạn cần thường xuyên lau chùi để làm tăng độ sáng cho sản phẩm. Nên dùng vải mềm hoặc chổi nhỏ để tránh gây xước, các vết bẩn thì có thể dùng dung dịch nước muối, tránh dùng các chất tẩy mạnh. Ngoài ra, bạn nên dùng máy hút bụi để làm sạch các khe hở của đồ dùng.
Với nội thất mây tre, bạn hoàn toàn có thể sở hữu một không gian sống tuyệt vời. Vẻ đẹp dịu dàng và dân dã của chúng hẳn sẽ mang tới cảm giác thư thái và bình yên cho cả gia đình.
Phan Tuấn (tổng hợp)



Xem thêm

Ngành mây tre và cơ hội tỷ USD

Theo thống kê từ Bộ Công Thương, sản phẩm mây tre Việt Nam đã được xuất khẩu (XK) tới trên 120 quốc gia. Trong đó, đứng đầu là thị trường Mỹ chiếm đến trên 19% thị phần, Nhật Bản chiếm gần 17% th phần. Tuy nhiên, kim ngạch XK mây tre Việt Nam hiện chỉ chiếm chưa đến 3% thị  trường thế giới.

Chưa có thương hiệu chung
Ông Lưu Duy Dần, Chủ tịch Hiệp hội Làng nghề Việt Nam cho hay, cả nước có 713 làng nghề mây tre đan, chiếm 24% trong tổng số làng nghề thủ công mỹ nghệ, thu hút khoảng 350  nghìn lao động.
Từ năm 2009 đến nay, các làng nghề mây tre nổi tiếng như Phú Nghĩa, nón Chuông, làng Vát, Chàng Sơn, Phú  Túc, nón Huế... gặp rất nhiều khó khăn do thị trường bấp bênh, nguồn nguyện liệu không ổn định, sản xuất cầm chừng.
Trong khi người tiêu dùng ở các nước phát triển  ưa chuộng những sản phẩm đơn giản, có tính hình khối thì sản phẩm mây tre Việt Nam thường rườm rà, nhiều chi tiết và lắm góc cạnh, uốn lượn,…  nên khó có thị trường bền vững. Chúng ta cũng chưa xây dựng được thương hiệu chung cho các sản phẩm tre Việt Nam.
Trên 80% các cơ sở sản xuất trong ngành mây tre đan không đủ vốn để đổi mới kỹ thuật, mở rộng quy mô sản xuất, hầu hết đều sử dụng công nghệ, thiết bị lạc hậu, năng suất lao động và chất lượng sản phẩm thấp, thiếu đa dạng về mẫu mã, hạn chế sức cạnh tranh cả trên thị trưởng trong nước lẫn XK.
Theo ông Nguyễn Mạnh Dũng, Trưởng Phòng Chế biến, Cục Chế biến thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối (Bộ NNPTNT), từ mây và tre có thể chế biến được hàng trăm loại sản phẩm khác nhau phục vụ cho tiêu dùng nội địa và XK.
Cụ thể, những vật liệu này có thể sản xuất thành 2 nhóm hàng lớn: các sản phẩm truyền thống như măng tre làm thực phẩm, hàng thủ công mỹ nghệ, mành, chiếu, tăm, giấy…; các sản phẩm mới như tre ép làm ván sàn và đồ nội thất, tre ép phục vụ xây dựng, làm than hoạt tính, làm sợi,… Trong đó, các sản phẩm chế biến công nghiệp từ tre như tre ép khối và đặc biệt là tấm lót đường từ tre mặc dù mới được nghiên cứu và đưa vào sản xuất nhưng đã có một vị thế đầy tiềm năng ở cả thị trường trong và ngoài nước, có giá trị gia tăng rất cao.
Chị An - Chủ cơ sở sản xuất ủ ấm nước

Phát triển nguyên liệu và thương hiệu
Ông Nguyễn Trọng Thừa, Cục trưởng Cục Chế  biến thương mại nông lâm thủy sản và nghề muối, cho biết hiện cả nước có khoảng 1,4 triệu ha tre, trong đó chỉ  khoảng 6% diện tích rừng trồng, phần còn lại là rừng tự nhiên. Những tỉnh có  trữ lượng tre lớn, tập trung là Thanh Hóa, Lâm Đồng, Kon Tum, Nghệ An, Tuyên Quang, Đắk Nông, Bình Phước, Lai Châu, Sơn La và Yên Bái. Hàng năm, Việt Nam tiêu thụ khoảng 400-500 triệu cây tre nứa cho các mục  đích khác nhau.
Điều tra thực địa tại 28 tỉnh trên cả nước, ước tính nguồn tài nguyên song mây tại Việt Nam có tổng diện tích 381.936 ha. Trong đó vùng Bắc Trung Bộ có mây nhiều nhất (201.076ha), sau đó là vùng Nam Trung Bộ với diện tích song mây 180.270 ha. Sản lượng song mây có thể được thu hoạch được trong cả nước ước khoảng 36.510 tấn/năm, trong khi nhu cầu tiêu thụ thực tế khoảng 70.000 tấn/năm, có nghĩa mỗi năm chúng ta đang phải nhập khẩu trên 33.000 tấn mây.


Xem thêm

Làng mây tre đan Phú Vinh

Nằm cách trung tâm Hà Nội 35 km theo hướng Tây Nam, làng nghề mây tre đan Phú Vinh, Phú Nghĩa, Chương Mỹ (Hà Nội), được biết đến như một trong những làng nghề truyền thống có tiếng.

Năm 2002, làng Phú Vinh chính thức được công nhận là làng nghề truyền thống nhưng nghề mây tre đan của Phú Vinh, với tên gọi cũ Phú Hoa Trang đã được biết đến gần 400 năm nay. Các nghệ nhân trong làng kể rằng, cách đây bốn trăm năm về trước, Phú Hoa Trang (tên cũ của Phú Vinh) xuất hiện ba ông chuyên làm các sản phẩm "lâm sản ngoài rừng" như rổ, rá, rế, làn... phục vụ cho nhu cầu của bà con chòm xóm. Theo thời gian, nghề dần lan rộng,"phủ sóng"cả thôn, rồi cả xã. Với truyền thống lâu đời, ở Phú Vinh nhà nào cũng có người làm nghề mây tre đan, từ thanh niên trai tráng, phụ nữ đến người già, trẻ nhỏ đều có thể tham gia vào một công đoạn nào đó của nghề. Cha truyền con nối, nên bao đời nay người Phú Vinh vẫn sống chết với nghề mây tre đan, người làm nghề, nghề cũng giúp cho nhiều gia đình trong làng đổi đời, sung túc. Trước đây, sản phẩm từ mây tre của người dân trong làng chủ yếu là thúng, mủng, dần, sàng, túi, hộp... các đồ dùng phục vụ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Nhưng, cuộc sống ngày càng phát triển, nhu cầu của người dân ngày một cao nên những sản phẩm mỹ nghệ từ mây tre đan như các đồ vật trang trí, chao đèn, rèm cửa, tranh chân dung, phong cảnh, hoành phi, câu đối cũng theo đó đã ra đời.



Để có một sản phẩm hoàn thiện, các công đoạn sản xuất mây tre đan đòi hỏi sự cẩn thận, cầu kỳ từ khâu chọn nguyên liệu. Đối với mặt hàng này nguyên liệu chính là cây song, cây mây. Cây mây phải chọn cây có gióng đều, thông thường phải đạt độ dài năm mét, khi chẻ và đan mới dễ dàng. Muốn cây mây thẳng, khi trồng phải đặt rễ mây cho thẳng. Rễ dài đến đâu cũng phải đào hố trồng sâu đến đấy để đặt rễ cho thẳng. Kinh nghiệm cho thấy, khi đặt rễ thẳng như thế, dù cây mây có leo, có cuốn xoắn vào cây khác thì khi chẻ sợi mây cũng cứ thẳng, không bị vặn.


Kỹ thuật chế biến mây bao gồm 2 công đoạn: phơi sấy và chẻ mây. Mây và tre đều là loại cây có chất đường nên dễ bị mọt ăn, chính vì vậy khâu xử lý nguyên liệu cũng hết sức quan trọng. Mây tre mua về sau khi lựa chọn được đem đi sấy. Khi sấy, nhiều khói quá mây sẽ đỏ, ít khói quá cũng bị đỏ. Khi phơi, gặp mưa thì sợi mây mất vẻ đẹp, mà nắng quá thì sợi mây mất vẻ tươi. Sợi mây chưa khô tới thì nước da bị úa, mà khô kiệt quá thì nước da mất vẻ óng mềm. Do đó, phơi sấy mây đòi hỏi phải đúng kỹ thuật, không thể sao nhãng, phải liên tục săn sóc, theo dõi như chăn tằm vậy.
                  
Sau đó, mây sẽ được đem ra chẻ thành các nan mỏng. Chẻ nan mây là một kỹ thuật khó, đòi hỏi người thợ có tay nghề cao. Tùy theo từng sản phẩm mà người thợ có cách chẻ nan riêng, sợi nan lúc thì chẻ thành từng ống tròn, lúc chẻ thành bẩy hoặc chín nan mỏng. Đối với kỹ thuật chẻ nhiều nan mỏng đều tay thì người thợ có nhiều kinh nghiệm mới làm được. Thân cây mây là thân tròn, phía bên trong lại có lõi nên chẻ không khéo sẽ bị lạng chỗ dầy, chỗ mỏng. Với cách chẻ lột, người thợ sẽ có cách lấy được cả phần cật và lõi của cây mây.

Sau công đoạn chẻ, các nan được đem chuốt để có những sợi mây mượt mà, phẳng bóng. Bàn chuốt được người làng nghề tự tạo nên hết sức đơn giản, chỉ bao gồm một tấm sắt tây, đục nhiều lỗ kích thước khác nhau được kẹp bằng bốn đoạn tre. Mây sau khi chuốt được phơi ngoài nắng cho thật khô, để nước trong sợi mây thoát hết ra ngoài. Nan mây chưa khô tới thì nước da bị úa, mà khô kiệt quá thì nước da mất vẻ óng mềm. Do đó, phơi sấy mây đòi hỏi phải đúng kỹ thuật, không thể sao nhãng và phải liên tục săn sóc.

Mây phơi khô lại tiếp tục được nhúng vào nước rồi đem đi sấy thêm một lần nữa để sợi mây có độ dẻo, tiếp tục cho vào sấy sẽ khiến sợi mây dẻo và mềm hơn. Để cho sản phẩm có độ đa dạng về màu sắc, người làng nghề Phú Vinh còn có bí quyết tạo màu riêng. Các nan mây sau khi chẻ, phơi khô, sấy sẽ được nhúng vào các chậu lá cây sòi băm nhỏ đã được nấu sôi. Sợi nan được nhúng vào nước khoảng 15-20 lần sau đó phơi trong nắng cho khô. Các nan nhúng nước sồi sẽ có màu vàng đều. Muốn màu đen óng ả, các nan mây được đem ngâm bùn ao từ ba đến năm ngày. Đây là cách tạo màu hoàn toàn tự nhiên, không hóa chất giúp cho sản phẩm mây tre đan của Phú Vinh luôn là những sản phẩm thân thiện với môi trường, không gây hại cho sức khỏe người sử dụng và có độ bền màu cao tới 30-40 năm.

Ngày nay, Phú Vinh có hơn 400 hộ làm nghề với gần một triệu lao động chiếm 90% số hộ trong làng. Người Phú Vinh không ngừng tìm tòi, sáng tạo đã liên tục đổi mới mẫu mã sản phẩm, đề cao chất lượng để giữ chữ tín với khách hàng. Từ các cách đan truyền thống là đan nong mốt, nong đôi, nong ba, với óc sáng tạo và bàn tay khéo léo, người làng mây tre Phú Vinh đã sáng tạo hàng trăm cách đan khác nhau như đan xương cá, kết hình hoa và kết hợp màu sắc, tạo hình hoa văn nổi, tạo ra nhiều mẫu mã sản phẩm tinh xảo, có tính thẩm mỹ cao.


Kỷ niệm Đại lễ 1000 năm Thăng Long, người dân Phú Vinh đã đem công sức và kỹ thuật, độ tinh xảo của mình để đan một chiếc bình khổng lồ. Đây là món quà của làng nghề bằng tài hoa tâm huyết của mình dâng lên dịp kỷ niệm Đại lễ. Chiếc bình có độ cao 4,1m được đan với nhiều cách đan khác nhau, trên bề mặt có nhiều hoa văn, biểu tượng của văn hóa Việt Nam nghìn năm lịch sử. Với tạo hình bề mặt của bình là chùa Một Cột, Tháp Rùa và Văn Miếu người dân làng nghề mây tre đan Phú Vinh muốn gửi đến một thông điệp cho thế hệ mai sau là bảo tồn và lưu giữ các giá trị truyền thống.



Xem thêm

Bền bỉ làng nghề Phú Vinh

Có dịp đến làng nghề Phú Vinh (xã Phú Nghĩa - huyện Chương Mỹ - Hà Nội) những ngày này, không khó để bắt gặp hình ảnh những người thợ đủ mọi lứa tuổi đang say sưa tỉ mẩn đan những chiếc giỏ, khay bằng mây, tre. Dù nghề mây tre đan giờ đây không còn “vang bóng” và thu nhập không cao nhưng sức sống bền bỉ của làng nghề vẫn đang thực sự hiện hữu…

Chuyển hướng có chiều sâu, đa dạng hóa mẫu mã sản phẩm nên mây tre đan Phú Vinh vẫn có sức sống và được nhiều thị trường ưa chuộng.

Giai đoạn 2000-2007, làng nghề Phú Vinh lúc nào cũng nhộn nhịp như một đại công xưởng. Khi đó, hàng mây tre giang đan ùn ùn xuất khẩu sang các thị trường Đông Âu, Mỹ, Nhật... nên hầu hết các hộ gia đình trong làng đều làm nghề. Thu nhập của mỗi lao động đạt tới 100.000 đồng/ngày. Tuy nhiên, từ năm 2008 đến nay, do ảnh hưởng của suy thoái kinh tế, hàng mây tre đan xuất khẩu đã giảm rõ rệt.
Mặc dù vậy, theo thống kê của UBND xã Phú Nghĩa, toàn xã hiện vẫn có hơn 80% số hộ làm nghề mây tre giang đan. Ngoài ra, trên địa bàn xã còn khoảng 10 công ty TNHH đang hoạt động thu mua, xuất khẩu hàng mây tre đan. Mặc dù sản xuất gặp nhiều khó khăn nhưng nghề mây tre đan vẫn đều đặn mang lại thu nhập thường xuyên và góp phần nâng cao đời sống cho người dân. Hiện giá công lao động có tay nghề cao khoảng 100.000 đồng/ngày, thợ bình thường 60.000-70.000 đồng/ngày. Chính vì vậy, các hộ dân vẫn bền bỉ giữ nghề mây tre đan có truyền thống hơn 100 năm tại địa phương.

Công nhân làng nghề
Công nhân làng nghề 
Ở Phú Vinh hiện nay, bên cạnh những ngôi nhà mái ngói rêu phong, những hàng tre tươi xanh, không ít nhà cao tầng khang trang đã mọc lên mang lại diện mạo mới cho làng quê. Dù không còn ồn ào, tấp nập như thời “vàng son”, nhưng hoạt động sản xuất của làng nghề mây tre đan Phú Vinh đang tập trung chuyển hướng có chiều sâu với nhiều bước đột phá trong cải tiến mẫu mã, chất lượng sản phẩm. Nghệ nhân Nguyễn Văn Trung, Chủ nhiệm CLB Nghệ nhân, thợ giỏi làng nghề mây tre đan Phú Vinh chia sẻ, trước đây, sản phẩm mây tre đan mỹ nghệ chủ yếu dùng làm đồ trang trí, lưu niệm. Thế nhưng đến nay, người thợ làng Phú Vinh đã mày mò, sáng tạo, nâng cao tính ứng dụng cho sản phẩm. Trong đó, hàng loạt sản phẩm như đèn ngủ, đèn chùm, lọ hoa, bàn ghế, khay đựng hoa quả, khung tranh, khung ảnh... đã được thị trường trong và ngoài nước đón nhận tích cực. “Tranh bằng mây tre đan hiện nay được thị trường rất ưa chuộng, sản phẩm làm ra đều được đặt mua hết, chỉ lo không có sức để làm” - ông Trung phấn khởi cho biết.
Mặc dù kỹ thuật làm nghề đã có nhiều thay đổi để bắt kịp với xu thế của thị trường nhưng kỹ thuật xử lý nguyên liệu của làng nghề Phú Vinh theo cách truyền thống vẫn được gìn giữ và đề cao nhằm tăng tính độc đáo cho sản phẩm. Đó là sử dụng kỹ thuật luộc chín nan tre, mây, giang để làm giảm lượng đường glucozo hay lên màu tự nhiên cho nan bằng cách ngâm dưới bùn đen tạo màu đen, chế các loại lá cây tạo màu xanh, hun khói rơm để tạo màu nâu óng ả... Chính vì giữ được nét văn hóa hồn hậu của làng quê Việt nên sản phẩm mây tre giang đan Phú Vinh được rất nhiều cơ quan, đơn vị, tổ chức đặt mua để làm quà tặng, nhất là quà ngoại giao.
Trao đổi về triển vọng của làng nghề, đại diện cán bộ phụ trách ngành nghề xã Phú Nghĩa vẫn rất lạc quan và không lo ngại nghề mây tre đan sẽ bị mai một đi bởi mặt hàng thủ công mỹ nghệ này vẫn được nhiều thị trường ưa chuộng và đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ. Để thúc đẩy sự phát triển của làng nghề, vị đại diện này cho biết, hiện nay, UBND xã Phú Nghĩa đang tích cực xây dựng thương hiệu cho sản phẩm và tìm cách thu hút khách du lịch đến với làng nghề./.




Xem thêm

Phát triển vùng nguyên liệu mây tre đan

Phát triển vùng nguyên liệu mây tre đan: thách thức và tiềm năng

Hiện nay khoảng 35-42% các cơ sở mây tre đan đang phải sản xuất cầm chừng và tệ hại hơn là đối đầu với nguy cơ đóng cửa vì thiếu và không chủ động được nguyên liệu. Việc thiết lập những vùng nguyên liệu chuyên canh tập trung là một nhu cầu bức bách hiện nay đối với nước ta.

Ngành nghề Tiểu thủ công nghiệp, thủ công mỹ nghệ (TTCN-TCMN) mây tre đan nước ta đang có bước phát triển ngoạn mục trong vài thập niên qua. Hiện có khoảng 713 làng nghề mây tre đan trong tổng số 2017 làng nghề trên toàn quốc và hơn 1700 doanh nghiệp có liên quan đến sản xuất kinh doanh mây tre đan. Doanh số xuất khẩu mây tre đan của năm 2007 là 219 triệu đô la với mức tăng trưởng bình quân là 30%/năm. Riêng giá trị sản xuất của ngành tre nứa là 1.2 tỷ USD Mỹ trong đó 900 triệu đô-la có tác động trực tiếp đến người nghèo. Ngành nghề này cũng đã tạo ra gần nửa triệu việc làm thường xuyên và bán thời gian vốn có ý nghĩa rất lớn trong việc giải quyết lao động nhàn rỗi trong nông thôn. Chính phủ đã đặt ra kế hoạch đối với xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ là 1,5 tỷ USD vào năm 2010 trong đó hàng mây tre phải đạt con số 600 triệu USD.


Tuy nhiên, một thực trạng nghiêm trọng hiện nay là khoảng 35-42% các cơ sở đang phải sản xuất cầm chừng và tệ hại hơn là đối đầu với nguy cơ đóng cửa vì thiếu và không chủ động được nguyên liệu. Hằng năm chúng ta vẫn cứ nhập một lượng nguyên liệu lớn mây tre với giá cao hơn trong nước từ 15-20%. Tài nguyên mây tre trong nước thì có nhiều, nhưng cũng cạn kiệt dần do những khai thác bất hợp lý, khai thác quá mức ở những nơi và điều kiện đường sá cho phép, làm cho số lượng và chất lượng nguyên liệu giảm trầm trọng. Trữ lượng khai thác mây cũng giảm đi thấy rõ, từ 80.000 tấn năm 1989 xuống còn 20.000 tấn năm 2005. Nguyên liệu tre nứa thì tập trung ở miền núi, làng nghề với nguồn lao động dồi dào lại tập trung ở đồng bằng, sơ chế thì chưa phát triển, hạ tầng miền núi cũng còn khó khăn, nên hai nguồn tài nguyên có giá trị ở cách xa nhau chưa có điều kiện tốt nhất để hợp lại với nhau tạo ra giá trị và của cải cho xã hội. Một vấn đề đáng lưu ý nữa là ngành nghề TTCN-TCMN mây tre cần những loại nguyên liệu rất đặc trưng ví dụ như giang, lùng, luồng, tầm vông, nứa đối với tre và mây tắt. mây nếp, mây nước, song, hèo.. trong đó tổng lượng tre nứa khai thác dành cho sản xuất TTCN-TCMN không nhiều, chỉ trên dưới 30%, còn lại đi vào các ngành xây dựng và sản xuất bột giấy. Như vậy, rõ ràng là ngành nghề TTCN-TCMN mây tre đan đang đối mặt nghiêm trọng với việc thiếu nguyên liệu. Và rõ ràng là việc thiết lập những vùng nguyên liệu chuyên canh tập trung là một nhu cầu bức bách hiện nay đối với nước ta.

Đâu là cơ hội?

Về thị trường thì các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy là mây tre có một thị trường cực kỳ triển vọng. Bằng việc xây dựng mô hình Kinh tế, các giáo sư Đại học Sydney – Úc đã dự đoán thị trường thế giới về tre nứa có thể đạt đến 17 tỷ đô la/năm vào năm 2017 so với 7 tỷ USD Mỹ hiện nay (Trung Quốc chiếm khoảng 5.5 tỷ USD). Trong đó các sản phẩm có tốc độ phát triển mạnh nhất là đồ gỗ bằng tre nứa, ván sàn và ván tấm. Còn tổng khối lượng của thị trường mây các loại của thế giới hiện nay cũng đạt hơn 6 tỷ USD, trong đó Indonesia chiếm hơn 64% thị phần và tốc độ tăng trưởng bình quân/năm là 10%. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu mây tre đan hiện nay của Việt Nam cũng khoảng 25% mỗi năm. Việt Nam cũng được cho là nước có lợi thế cạnh tranh hơn Trung quốc về sản xuất các mặt hàng này do giá lao động trung bình của nước ta hiện nay là 50 USD/tháng trong khi ở Trung quốc là 150 USD/tháng. Chi phí chế biến một tấn tre nứa nguyên liệu ở Việt Nam hiện nay chỉ 40 USD sao với 100 USD của Trung quốc.

Về nguyên liệu tự nhiên thì hiện nay nước ta có hơn 1 triệu ha tre nứa dưới các loại rừng khác nhau. Trong đó diện tích có thể khai thác bền vững được là 354.000 ha với tổng trữ lượng khoảng 4,3 tỷ cây và sản lượng có thể khai thác hằng năm có thể đạt 432 triệu cây. Ngoài ra ở Thanh Hoá và Nghệ An đã thiết lập được 80,000 ha nguyên liệu luồng chuyên canh, phục vụ cho tiêu thụ chế biến ở địa phương và các tỉnh lân cận.

Hiệu quả kinh tế quá hấp dẫn của việc trồng nguyên liệu mây và tre đã rộ lên phong trào trồng mây rộng khắp trên cả nước. Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng hiệu quả trồng luồng ở Thanh Hoá hiện nay là 4 triệu đồng/ha/năm cao hơn rất nhiều so với những cây lâm nghiệp khác như bạch đàn và keo. Hiệu quả kinh tế của việc trồng mây là một câu chuyện hết sức ngoạn mục mà nghiên cứu chúng tôi đã tìm ra. Đối với trồng mây nguyên liệu ở Thái Bình và Quảng Nam, hiệu quả kinh tế đạt từ 16-28 triệu đồng/ha/năm ở quy mô hộ gia đình (hộ ông Vũ Xuân Đức xã Bình Minh, Kiến Xương, Thái Bình) và 19 triệu đồng/ha/năm với quy mô doanh nghiệp (Công ty CP Song Mây Dũng Tấn - xã Thượng Hiền, Kiến Xương, Thái Bình).

Hiện nay quỹ đất lâm nghiệp trong dân cũng rất lớn. Đến nay đã có khoảng 8,1 triệu ha đất lâm nghiệp đã giao cho tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. Trong đó có 3,2 triệu ha đã giao và cấp giấy chứng nhận cho 1,102 triệu hộ gia đình với diện tích trung bình khoảng 2,87 ha/hộ. Tuy nhiên số liệu gần đây của Bộ chủ quản đã chỉ ra rằng chỉ có 20-30% diện tích đất lâm nghiệp đã sử dụng đúng mục đích, có nghĩa là 70-80% diện tích còn lại chưa được sử dụng hoặc sử dụng sai mục đích. Như vậy, phải nói rằng tiềm năng đất lâm nghiệp trong hộ dân rất lớn, nhưng việc có tập hợp được thành vùng rộng lớn để trồng nguyên liệu lại là vấn đề khác. Đó là chưa kể quỹ đất khổng lồ hiện nay đang nằm trong tay của 355 lâm trường trên toàn quốc, nơi mà khả năng hình thành các vùng nguyên liệu lớn hàng ngàn ha đang được mong đợi.

Về vốn đầu tư thì hiện nay bà con vẫn khó tiếp cận, nhưng đã xuất hiện nhiều liên kết ứng vốn trồng và khai thác lâm sản, đặc biệt là nguyên liệu tre nứa. Với quyền sử dụng đất sẵn có thì đây sẽ là một nguồn vốn có ý nghĩa để liên kết đầu tư trong tương lai.

Đâu là cản trở?

Như đã đề cập, tuy số lượng và diện tích tre nứa tự nhiên lớn như thế nhưng không phải nơi nào cũng khai thác được chủ yếu do điều kiện cơ sở hạ tầng không cho phép và sơ chế ở các vùng này chưa phát triển. Mỗi năm Việt Nam tiêu thụ hàng trăm triệu cây tre nứa, nhưng chỉ một tỷ lệ rất nhỏ trong số này được sử dụng trong ngành nghề mây tre. Tỉnh Nghệ An mỗi năm tiêu thụ 52,5 triệu cây tre nứa trong đó làm bột giấy và xây dựng cơ bản là 35 triệu cây, chỉ có 17,5 triệu cây là cho TTCN-TCMN, chiếm khoảng 22% tổng lượng tre nứa khai thác trên địa bàn tỉnh. Ở Thanh Hoá, tỷ lệ này là 16%.

Về thị trường nguyên liệu, có thể nói thị trường trong nước hiện nay vừa thừa vừa thiếu trên cả hai phương diện đó là chủng loại nguyên liệu mà ngành mây tre đan cần và nơi cần nguyên liệu. Về chủng loại, TTCN-TCMN sử dụng những loại nguyên liệu mang tính dẻo (giang, lùng, tầm vông…) để đan lát, uốn, bện… mà không dùng nhiều cây tre gai trồng rải rác khắp các vùng ở đồng quê. Ví dụ ở Hội An, Cơ sở Mây tre Bội Lâm hằng năm tiêu thụ hàng chục ngàn cây Tầm vông và họ phải đi mua tận A Lưới, Thừa Thiên Huế. Ở Nghệ An, hằng năm phải tiêu thụ đến 17,5 triệu cây Lùng khai thác từ tự nhiên, mà chưa gây trồng được. Do đó có thể nói là ngành nghề mây tre đan rất “kén chọn” nguyên liệu. Về khoảng cách địa lý thì giá nguyên liệu một cây luồng ở Tuyên Quang là 8,000 đồng nhưng khi chở về đến Hà Tây đã lên đến 27,000 đồng. Giá một cây lồ ô mua ở Đà Nẵng là 10,000 – 15,000 thì ở Đăk Lak, người dân (xã Dak Nuê, Lak) chỉ bán được 3000 đồng/cây. Có thời điểm tổ hợp chế biến đũa họ chỉ ép mua với giá 2000 đồng/cây. Từ việc phân tích các tác nhân hưởng lợi trong chuỗi giá trị tiêu thụ nguyên liệu tre nứa cho thấy các lái buôn trung gian là người được hưởng lợi khá nhiều trong khâu mua bán nguyên liệu cũng như sản phẩm chế biến. Đến giai đoạn tiêu thụ cuối cùng thì các đại gia xuất khẩu, các công ty quốc tế có tên tuổi như IKEA là những tác nhân hưởng lợi nhiều nhất. Các công ty này cho Cán bô kiểm tra chất lượng đến nghiệm thu sản phẩm, rồi đóng nhãn mác của họ vào để xuất khẩu. Khi vào mạng tra giá bán lẻ của các sản phẩm tương tự của các đại gia này mới thấy giá họ rao bán cao gấp hàng chục lần so với giá họ mua tại địa phương. Trong khi người trồng nguyên liệu và người chế biến hưởng lợi rất ít từ chuỗi giá trị này. Bên cạnh đó việc thiếu vắng thông tin thị trường, thiếu một thương hiệu cho ngành hàng mây tre đan Việt Nam cũng làm cho sức cạnh tranh và năng lực ngã giá yếu hơn.


Trồng mây cao sản ở Thái Bình


Với vấn đề thị trường, để cho minh bạch giá và tránh hiện tượng ép giá bán nguyên liệu thì việc thành lập các chợ đầu mối mua bán nguyên liệu mây tre là rất quan trọng. Thứ hai để giải quyết vấn đề thiếu thông tin thị trường dẫn tới bị mua ép giá đối với các sản phẩm chế biến mây tre đan của ngưòi dân thì cần phải thành lập sàn giao dịch điện tử, thành lập các nghiệp đoàn địa phương ở các cấp như thôn, xã, huyện và tỉnh, làm tốt vai trò gắn kết thị trường, nghiên cứu khoa học và người dân lại với nhau. Kinh nghiệm từ Trung Quốc cho thấy việc ra đời của Hiệp hội Tre Nứa Trung Quốc năm 1985 đã giúp ích rất nhiều cho ngành công nghiệp này phát triển. Việc minh bạch hoá trong giao dịch thị trường cũng làm giảm cơ hội của việc xuất hiện quá sức nhiều và phức tạp các nhà mua bán trung gian hiện nay trong chuỗi giá trị. Ngoài ra, vấn đề xây dựng thương hiệu cho ngành hàng mây tre đan Việt Nam cần phải nhanh chóng được thực hiện để nâng cao sức cạnh tranh và mở rộng phạm vi thị trường. Hiện tượng mãi lộ cũng được đổ lỗi làm ảnh hưởng đến quá trình lưu thông tiêu thụ lâm sản. Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng mãi lộ đã làm tăng giá luồng 19,5 % từ một vùng lân cận về Hà Tây.



Thực trạng hiện nay là đất đai quá manh múm và sử dụng kém hiệu quả, quỹ đất trong lâm trường còn khá nhiều. Do đó với vấn đề đất đai và quy hoạch thì rõ ràng là cần phải có chính sách để tạo ra những vùng đất liên tục quy mô hàng nghìn ha cho xây dựng vùng nguyên liệu dựa trên lợi thế sinh địa, thị trường trên cơ sở có cân nhắc sự tồn tại các cơ sở làng nghề hiện nay. Đất trong dân rất nhiều nhưng đang trong tình trạng manh múm. Do vậy cần có chính sách liên kết giữa doanh nghiệp với dân theo hình thức góp vốn bằng đất, dân với dân theo hình thức tổ hợp trồng rừng nguyên liệu với những hỗ trợ thích đáng từ phía Nhà nước, và doanh nghiệp tư nhân đang khát nguyên liệu với lâm trường vốn đang giữ nhiều đất và có thể phát triển mạnh vùng nguyên liệu. Các địa phương cần phải có quy hoạch sẵn những vùng đất rộng lớn để chào mời doanh nghiệp đến đầu tư, chứ không thụ động chờ doanh nghiệp đến xin rồi cấp đất nhưng khi ra hiện trường không biết lấy đất đâu mà giao như một trường hợp đã xảy ra đối với một địa phương ở phía Bắc. Cần đẩy mạnh tiến độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có chính sách mở rộng các hình thức đấu thầu, cho thuê đất… Theo tính toán sơ bộ, hiện nay Việt Nam cần ít nhất 40,000 tấn song mây các loại cho chế biến hằng năm. Nếu mỗi ha cho khai thác bền vững bình quân 3,5 tấn/năm thì phải cần hơn 12,000 ha mây các loại phục vụ cho chế biến trong nước. Riêng ở khu vực Đồng bằng sông Hồng nơi tập trung 65% cơ sở chế biến TTCN-TCMN thì việc thiết lập khoảng 8000 ha cho khu vực này là một điều rất bức thiết và hoàn toàn không thừa. Hiện nay mây được trồng thử nghiệm trên toàn quốc nhưng vùng mây tự nhiên nổi tiếng lâu nay vẫn là các tỉnh miền Trung, Tây Nguyên và gần đây là mây trồng trên đất ruộng với thu nhập cao ngất trời (28 triệu đồng/ha/năm) ở Thái Bình.



Về vốn thì phải nói đây là một vấn đề gay cấn trong thời điểm hiện nay. Trước đây lãi suất cho vay trồng rừng nguyên liệu hiện nay khi mà lãi suất huy động của các ngân hàng đăng tăng lên, vốn vay cho trồng rừng nguyên liệu lại càng khó hơn. Hiện nay người dân vẫn rất khó tiếp cận với vốn vay để trồng rừng. Ngoài nguồn vốn tự có và vốn ứng trước từ doanh nghiệp, đa số các hộ dân khó tiếp cận trực tiếp các nguồn vốn vay, mà thường phải qua bảo lãnh của một doanh nghiệp. Cũng từ kinh nghiệm Trung quốc cho thấy một chương trình tín dụng đặc biệt cho việc trồng tre nứa cũng đã được triển khai với mức vay là 545 USD/ha đã thật sự là một đòn bẩy ngoạn mục giúp nền công nghiệp mây tre phát triển.



Khoa học công nghệ liên quan đến trồng, thu hoạch và chế biến mây tre ở nước ta hiện nay cũng chưa phát triển. Hiện nay Trung Quốc đã đa dạng hoá các sản phẩm từ tre nứa như chế biến than hoạt tính, bia, dược liệu...Vì thế mà nhu thập từ 1 ha tre nứa lên đến con số ngoạn mục là 15,000 USD Mỹ/năm. Ở nước ta hiện chưa có nhiều nghiên cứu về giống mà quan trọng nhất là xây dựng bộ sưu tập giống mây tre thương mại. Đặc biệt là trong nghiên cứu chế biến tổng hợp - để tăng tỷ lệ sử dụng nguyên liệu vốn rất thấp hiện nay – là một nhu cầu rất bức thiết. Một vấn đề nữa là hàng mỹ nghệ mây tre đan không phải là mặt hàng thiết yếu hằng ngày do đó cầu thị trường phụ thuộc rất nhiều vào sự tinh tế, tính thẩm mỹ, đa dạng và giá cả của sản phẩm. Do đó cần phải có tính sáng tạo trong thiết kế những sản phẩm này để làm sao kích thích tính hiếu kỳ của khách hàng và tính ham muốn phải sở hữu được một sản phẩm mây tre đan. Do đó bên cạnh đầu tư vào khoa học công nghệ giống, trồng, khai thác và đa dạng hoá về chế biến, việc đầu tư nghiên cứu, đào tạo về thiết kế sản phẩm, đa dạng hoá sản phẩm này cũng là giải pháp hết sức quan trọng trong việc xác định một chiến lược phát triển ngành hàng mây tre đan Việt. Với truyền thống ngành da giày hàng trăm năm của Ý và xìgà của Cuba, ngày nay những sản phẩm cao cấp thuộc những thương hiệu da giày nổi tiếng của Ý và những điếu xìgà với giá hàng trăm đô-la thì chỉ có người giàu và nổi tiếng mới sở hữu được. Với phương châm như thế, mặt hàng mỹ nghệ mây tre đan cũng cần có một sự chuẩn bị cho sự đột phá từ lượng sang chất.


Ông Đỗ Xuân Đức trong vườn mây của ông ở xã Bình Minh, Kiến Xương, Thái Bình
Lao động cho ngành công nghiệp mây tre hiện nay cũng tồn tại nhiều bất cập. Muốn bán được nguyên liệu thì khâu chế biến phải phát triển, do đó việc đào tạo lao động và tay nghề phải kết hợp cả khâu xây dựng vùng nguyên liệu và chế biến sản phẩm.Về lao động hiện nay ở nông thôn khá dồi dào và đa dạng, từ lao động ngoài mùa vụ cho đến lao động của người khuyết tật. Tuy nhiên, chính cái sự dồi dào về lao động ấy cộng với đức tính tham công tiếc việc ấy đã làm cho một số nhà nhập khẩu gần đây phàn nàn về chất lượng sản phẩm. Phải nói lao động mây tre đan hiện nay chia ra hai nhóm rõ rệt, một nhóm là không thường xuyên và thiếu kỹ năng và một nhóm là thường xuyên và kỹ năng cao. Nhóm thứ nhất thường làm những sản phẩm đan lát đơn giản và không hoặc ít có đào tạo bài bản. Nhóm thứ hai thường làm việc ở các cơ sở hoặc các doanh nghiệp chế biến hàng mỹ nghệ cao cấp. Để có một sự đột phá về lượng thì cần phải đào tạo nhiều và mạnh hơn đối với nhóm thứ nhất và đào tạo bài bản với tính sáng tạo cao để tạo ra sự đột phá về chất như đã giới thiệu trên.

Với những bằng chứng nói trên phải nói rằng ngành nghề mây tre đan nước ta đang đứng trước những cơ hội to lớn. Vấn đề còn lại là phải xây dựng khẩn trương những giải pháp đồng bộ từ khâu nguyên liệu đến chế biến và xuất khẩu cuối cùng. Đặc biệt là trong khâu xây dựng nguyên liệu thì cần có các giải pháp chính sách về đất, vốn, lao động, thị trường, phát triển cơ sở hạ tầng miền núi và khoa học công nghệ để làm sao vừa thể hiện quyết tâm chính trị của Nhà nước vừa tạo môi trường pháp lý thuận lợn nhất nhằm thu hút các nguồn vốn đầu tư của tư nhân và ngoài nước để thúc đẩy ngành nghề mây tre đan phát triển. Một cơ hội tốt đang chờ một hành động cụ thể.




Xem thêm

Kết hợp truyền thống và hiện đại trong sản phẩm mây tre

ket hop truyen thong va hien dai
        Cũng là mây tre nhưng với những thiết kế tiện dụng này, bạn sẽ thấy chúng có thể xuất hiện ở bất kỳ không gian sống hiện đại nào.
Những chiếc ghế bành êm ái, bàn cà phê tiện dụng, chiếc đệm ngồi xinh xắn... các chất liệu mây tre đã được xử lý bằng kỹ thuật hiện đại hay truyền thống như ngâm bùn, hun khói... sẽ đảm bảo độ bền dẻo và xuất hiện với những hình hài mới mẻ, làm đẹp các không gian sống.
        Dù giữ nguyên màu sắc nguyên thủy hay được xử lý, sơn phết... mây tre đều có thể kết hợp với nhiều sắc màu đa dạng. Nếu không thích cầu kỳ, bạn cũng sẽ thấy chỉ vớ






Xem thêm

Độc đáo sản phẩm mây tre đan làng Phú Vinh

Làng nghề cổ truyền Phú Vinh thuộc huyện Chương Mỹ, Hà Nội, từ lâu đã nổi tiếng với nghề mây tre đan. Sản phẩm của làng Phú Vinh có mặt ở khắp nơi trên thế giới với nhiều mẫu đa dạng.
     Các công đoạn sản xuất mây tre đan rất cầu kỳ, bao gồm chọn nguyên liệu rồi tuốt, phơi, chẻ nan, sấy… Sau đó, nguyên liệu sẽ được luộc trong nước sôi hoặc sấy khói rơm để có màu đẹp tự nhiên, cuối cùng mới đến tay người thợ đan thành sản phẩm.
     Hiện nay, ngoài những sản phẩm cổ truyền, các mặt hàng mây tre của làng nghề Phú Vinh  còn kết hợp với những vật liệu như gốm, sứ, gỗ, sắt… để cho ra đời những sản phẩm đẹp và phong phú.
     Theo nghệ nhân Nguyễn Văn Tĩnh thì chẻ nan mây là một kỹ thuật khó, đòi hỏi người thợ có tay nghề cao. Thân cây mây là thân tròn, phía bên trong lại có lõi nên chẻ không khéo sẽ khiến sợi nan có độ dày mỏng không đồng đều. Người thợ có tay nghề cao sẽ biết cách lấy được cả phần cật và lõi của cây mây.

20131025_May Tre Dan Phu Vinh_02
     Các nghệ nhân trong làng kể rằng, cách đây 400 năm, Phú Hoa Trang (tên cũ của làng Phú Vinh) xuất hiện 3 ông chuyên làm các sản phẩm “lâm sản ngoài rừng” như rổ, rá, rế, làn… phục vụ cho nhu cầu của bà con chòm xóm.
     Theo thời gian, nghề dần lan rộng, “phủ sóng”cả thôn, rồi cả xã. Với truyền thống lâu đời, ở Phú Vinh nhà nào cũng có người làm nghề mây tre đan, từ thanh niên trai tráng, phụ nữ đến người già, trẻ nhỏ đều có thể tham gia vào một công đoạn nào đó của nghề.
     Cha truyền con nối, nên bao đời nay người Phú Vinh vẫn sống chết với nghề mây tre đan. Người làm nghề, nghề cũng giúp cho nhiều gia đình trong làng đổi đời, sung túc.
     Trước đây, sản phẩm từ mây tre của người dân trong làng chủ yếu là thúng, mủng, dần, sàng, túi, hộp… và các đồ dùng phục vụ cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Dần dà, những sản phẩm mỹ nghệ từ mây tre đan như các đồ vật trang trí, chao đèn, rèm cửa, tranh chân dung… cũng được sản xuất nhằm đáp ứng nhu cầu thị trường.



Xem thêm