Phát triển vùng nguyên liệu mây tre
đan: thách thức và tiềm năng
Hiện nay khoảng 35-42% các cơ sở mây
tre đan đang phải sản xuất cầm chừng và tệ hại hơn là đối đầu với nguy cơ đóng
cửa vì thiếu và không chủ động được nguyên liệu. Việc thiết lập những vùng
nguyên liệu chuyên canh tập trung là một nhu cầu bức bách hiện nay đối với nước
ta.
Ngành nghề Tiểu thủ công nghiệp, thủ
công mỹ nghệ (TTCN-TCMN) mây tre đan nước ta đang có bước phát triển ngoạn mục
trong vài thập niên qua. Hiện có khoảng 713 làng nghề mây tre đan trong tổng số
2017 làng nghề trên toàn quốc và hơn 1700 doanh nghiệp có liên quan đến sản
xuất kinh doanh mây tre đan. Doanh số xuất khẩu mây tre đan của năm 2007 là 219
triệu đô la với mức tăng trưởng bình quân là 30%/năm. Riêng giá trị sản xuất
của ngành tre nứa là 1.2 tỷ USD Mỹ trong đó 900 triệu đô-la có tác động trực
tiếp đến người nghèo. Ngành nghề này cũng đã tạo ra gần nửa triệu việc làm
thường xuyên và bán thời gian vốn có ý nghĩa rất lớn trong việc giải quyết lao
động nhàn rỗi trong nông thôn. Chính phủ đã đặt ra kế hoạch đối với xuất khẩu
hàng thủ công mỹ nghệ là 1,5 tỷ USD vào năm 2010 trong đó hàng mây tre phải đạt
con số 600 triệu USD.
Tuy nhiên, một thực trạng nghiêm
trọng hiện nay là khoảng 35-42% các cơ sở đang phải sản xuất cầm chừng và tệ
hại hơn là đối đầu với nguy cơ đóng cửa vì thiếu và không chủ động được nguyên
liệu. Hằng năm chúng ta vẫn cứ nhập một lượng nguyên liệu lớn mây tre với giá
cao hơn trong nước từ 15-20%. Tài nguyên mây tre trong nước thì có nhiều, nhưng
cũng cạn kiệt dần do những khai thác bất hợp lý, khai thác quá mức ở những nơi
và điều kiện đường sá cho phép, làm cho số lượng và chất lượng nguyên liệu giảm
trầm trọng. Trữ lượng khai thác mây cũng giảm đi thấy rõ, từ 80.000 tấn năm
1989 xuống còn 20.000 tấn năm 2005. Nguyên liệu tre nứa thì tập trung ở miền
núi, làng nghề với nguồn lao động dồi dào lại tập trung ở đồng bằng, sơ chế thì
chưa phát triển, hạ tầng miền núi cũng còn khó khăn, nên hai nguồn tài nguyên
có giá trị ở cách xa nhau chưa có điều kiện tốt nhất để hợp lại với nhau tạo ra
giá trị và của cải cho xã hội. Một vấn đề đáng lưu ý nữa là ngành nghề
TTCN-TCMN mây tre cần những loại nguyên liệu rất đặc trưng ví dụ như giang,
lùng, luồng, tầm vông, nứa đối với tre và mây tắt. mây nếp, mây nước, song,
hèo.. trong đó tổng lượng tre nứa khai thác dành cho sản xuất TTCN-TCMN không
nhiều, chỉ trên dưới 30%, còn lại đi vào các ngành xây dựng và sản xuất bột
giấy. Như vậy, rõ ràng là ngành nghề TTCN-TCMN mây tre đan đang đối mặt nghiêm
trọng với việc thiếu nguyên liệu. Và rõ ràng là việc thiết lập những vùng
nguyên liệu chuyên canh tập trung là một nhu cầu bức bách hiện nay đối với nước
ta.
Đâu là cơ hội?
Về thị trường thì các kết quả nghiên
cứu gần đây cho thấy là mây tre có một thị trường cực kỳ triển vọng. Bằng việc
xây dựng mô hình Kinh tế, các giáo sư Đại học Sydney – Úc đã dự đoán thị trường
thế giới về tre nứa có thể đạt đến 17 tỷ đô la/năm vào năm 2017 so với 7 tỷ USD
Mỹ hiện nay (Trung Quốc chiếm khoảng 5.5 tỷ USD). Trong đó các sản phẩm có tốc
độ phát triển mạnh nhất là đồ gỗ bằng tre nứa, ván sàn và ván tấm. Còn tổng
khối lượng của thị trường mây các loại của thế giới hiện nay cũng đạt hơn 6 tỷ
USD, trong đó Indonesia chiếm hơn 64% thị phần và tốc độ tăng trưởng bình
quân/năm là 10%. Tốc độ tăng trưởng xuất khẩu mây tre đan hiện nay của Việt Nam
cũng khoảng 25% mỗi năm. Việt Nam cũng được cho là nước có lợi thế cạnh tranh
hơn Trung quốc về sản xuất các mặt hàng này do giá lao động trung bình của nước
ta hiện nay là 50 USD/tháng trong khi ở Trung quốc là 150 USD/tháng. Chi phí
chế biến một tấn tre nứa nguyên liệu ở Việt Nam hiện nay chỉ 40 USD sao với 100
USD của Trung quốc.
Về nguyên liệu tự nhiên thì hiện nay
nước ta có hơn 1 triệu ha tre nứa dưới các loại rừng khác nhau. Trong đó diện
tích có thể khai thác bền vững được là 354.000 ha với tổng trữ lượng khoảng 4,3
tỷ cây và sản lượng có thể khai thác hằng năm có thể đạt 432 triệu cây. Ngoài
ra ở Thanh Hoá và Nghệ An đã thiết lập được 80,000 ha nguyên liệu luồng chuyên
canh, phục vụ cho tiêu thụ chế biến ở địa phương và các tỉnh lân cận.
Hiệu quả kinh tế quá hấp dẫn của
việc trồng nguyên liệu mây và tre đã rộ lên phong trào trồng mây rộng khắp trên
cả nước. Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng hiệu quả trồng luồng ở Thanh Hoá
hiện nay là 4 triệu đồng/ha/năm cao hơn rất nhiều so với những cây lâm nghiệp
khác như bạch đàn và keo. Hiệu quả kinh tế của việc trồng mây là một câu chuyện
hết sức ngoạn mục mà nghiên cứu chúng tôi đã tìm ra. Đối với trồng mây nguyên
liệu ở Thái Bình và Quảng Nam, hiệu quả kinh tế đạt từ 16-28 triệu đồng/ha/năm
ở quy mô hộ gia đình (hộ ông Vũ Xuân Đức xã Bình Minh, Kiến Xương, Thái Bình)
và 19 triệu đồng/ha/năm với quy mô doanh nghiệp (Công ty CP Song Mây Dũng Tấn -
xã Thượng Hiền, Kiến Xương, Thái Bình).
Hiện nay quỹ đất lâm nghiệp trong
dân cũng rất lớn. Đến nay đã có khoảng 8,1 triệu ha đất lâm nghiệp đã giao cho
tổ chức, hộ gia đình và cá nhân. Trong đó có 3,2 triệu ha đã giao và cấp giấy
chứng nhận cho 1,102 triệu hộ gia đình với diện tích trung bình khoảng 2,87
ha/hộ. Tuy nhiên số liệu gần đây của Bộ chủ quản đã chỉ ra rằng chỉ có 20-30%
diện tích đất lâm nghiệp đã sử dụng đúng mục đích, có nghĩa là 70-80% diện tích
còn lại chưa được sử dụng hoặc sử dụng sai mục đích. Như vậy, phải nói rằng
tiềm năng đất lâm nghiệp trong hộ dân rất lớn, nhưng việc có tập hợp được thành
vùng rộng lớn để trồng nguyên liệu lại là vấn đề khác. Đó là chưa kể quỹ đất
khổng lồ hiện nay đang nằm trong tay của 355 lâm trường trên toàn quốc, nơi mà
khả năng hình thành các vùng nguyên liệu lớn hàng ngàn ha đang được mong đợi.
Về vốn đầu tư thì hiện nay bà con
vẫn khó tiếp cận, nhưng đã xuất hiện nhiều liên kết ứng vốn trồng và khai thác
lâm sản, đặc biệt là nguyên liệu tre nứa. Với quyền sử dụng đất sẵn có thì đây
sẽ là một nguồn vốn có ý nghĩa để liên kết đầu tư trong tương lai.
Đâu là cản trở?
Như đã đề cập, tuy số lượng và diện
tích tre nứa tự nhiên lớn như thế nhưng không phải nơi nào cũng khai thác được
chủ yếu do điều kiện cơ sở hạ tầng không cho phép và sơ chế ở các vùng này chưa
phát triển. Mỗi năm Việt Nam tiêu thụ hàng trăm triệu cây tre nứa, nhưng chỉ
một tỷ lệ rất nhỏ trong số này được sử dụng trong ngành nghề mây tre. Tỉnh Nghệ
An mỗi năm tiêu thụ 52,5 triệu cây tre nứa trong đó làm bột giấy và xây dựng cơ
bản là 35 triệu cây, chỉ có 17,5 triệu cây là cho TTCN-TCMN, chiếm khoảng 22%
tổng lượng tre nứa khai thác trên địa bàn tỉnh. Ở Thanh Hoá, tỷ lệ này là 16%.
Về thị trường nguyên liệu, có thể
nói thị trường trong nước hiện nay vừa thừa vừa thiếu trên cả hai phương diện
đó là chủng loại nguyên liệu mà ngành mây tre đan cần và nơi cần nguyên liệu.
Về chủng loại, TTCN-TCMN sử dụng những loại nguyên liệu mang tính dẻo (giang,
lùng, tầm vông…) để đan lát, uốn, bện… mà không dùng nhiều cây tre gai trồng
rải rác khắp các vùng ở đồng quê. Ví dụ ở Hội An, Cơ sở Mây tre Bội Lâm hằng
năm tiêu thụ hàng chục ngàn cây Tầm vông và họ phải đi mua tận A Lưới, Thừa
Thiên Huế. Ở Nghệ An, hằng năm phải tiêu thụ đến 17,5 triệu cây Lùng khai thác
từ tự nhiên, mà chưa gây trồng được. Do đó có thể nói là ngành nghề mây tre đan
rất “kén chọn” nguyên liệu. Về khoảng cách địa lý thì giá nguyên liệu một cây
luồng ở Tuyên Quang là 8,000 đồng nhưng khi chở về đến Hà Tây đã lên đến 27,000
đồng. Giá một cây lồ ô mua ở Đà Nẵng là 10,000 – 15,000 thì ở Đăk Lak, người
dân (xã Dak Nuê, Lak) chỉ bán được 3000 đồng/cây. Có thời điểm tổ hợp chế biến
đũa họ chỉ ép mua với giá 2000 đồng/cây. Từ việc phân tích các tác nhân hưởng
lợi trong chuỗi giá trị tiêu thụ nguyên liệu tre nứa cho thấy các lái buôn
trung gian là người được hưởng lợi khá nhiều trong khâu mua bán nguyên liệu
cũng như sản phẩm chế biến. Đến giai đoạn tiêu thụ cuối cùng thì các đại gia
xuất khẩu, các công ty quốc tế có tên tuổi như IKEA là những tác nhân hưởng lợi
nhiều nhất. Các công ty này cho Cán bô kiểm tra chất lượng đến nghiệm thu sản
phẩm, rồi đóng nhãn mác của họ vào để xuất khẩu. Khi vào mạng tra giá bán lẻ
của các sản phẩm tương tự của các đại gia này mới thấy giá họ rao bán cao gấp hàng
chục lần so với giá họ mua tại địa phương. Trong khi người trồng nguyên liệu và
người chế biến hưởng lợi rất ít từ chuỗi giá trị này. Bên cạnh đó việc thiếu
vắng thông tin thị trường, thiếu một thương hiệu cho ngành hàng mây tre đan
Việt Nam cũng làm cho sức cạnh tranh và năng lực ngã giá yếu hơn.
Với vấn đề thị trường, để cho minh
bạch giá và tránh hiện tượng ép giá bán nguyên liệu thì việc thành lập các chợ
đầu mối mua bán nguyên liệu mây tre là rất quan trọng. Thứ hai để giải quyết
vấn đề thiếu thông tin thị trường dẫn tới bị mua ép giá đối với các sản phẩm
chế biến mây tre đan của ngưòi dân thì cần phải thành lập sàn giao dịch điện
tử, thành lập các nghiệp đoàn địa phương ở các cấp như thôn, xã, huyện và tỉnh,
làm tốt vai trò gắn kết thị trường, nghiên cứu khoa học và người dân lại với
nhau. Kinh nghiệm từ Trung Quốc cho thấy việc ra đời của Hiệp hội Tre Nứa Trung
Quốc năm 1985 đã giúp ích rất nhiều cho ngành công nghiệp này phát triển. Việc
minh bạch hoá trong giao dịch thị trường cũng làm giảm cơ hội của việc xuất
hiện quá sức nhiều và phức tạp các nhà mua bán trung gian hiện nay trong chuỗi
giá trị. Ngoài ra, vấn đề xây dựng thương hiệu cho ngành hàng mây tre đan Việt
Nam cần phải nhanh chóng được thực hiện để nâng cao sức cạnh tranh và mở rộng
phạm vi thị trường. Hiện tượng mãi lộ cũng được đổ lỗi làm ảnh hưởng đến quá
trình lưu thông tiêu thụ lâm sản. Nghiên cứu của chúng tôi chỉ ra rằng mãi lộ
đã làm tăng giá luồng 19,5 % từ một vùng lân cận về Hà Tây.
Thực trạng hiện nay là đất đai quá
manh múm và sử dụng kém hiệu quả, quỹ đất trong lâm trường còn khá nhiều. Do đó
với vấn đề đất đai và quy hoạch thì rõ ràng là cần phải có chính sách để tạo ra
những vùng đất liên tục quy mô hàng nghìn ha cho xây dựng vùng nguyên liệu dựa
trên lợi thế sinh địa, thị trường trên cơ sở có cân nhắc sự tồn tại các cơ sở
làng nghề hiện nay. Đất trong dân rất nhiều nhưng đang trong tình trạng manh
múm. Do vậy cần có chính sách liên kết giữa doanh nghiệp với dân theo hình thức
góp vốn bằng đất, dân với dân theo hình thức tổ hợp trồng rừng nguyên liệu với
những hỗ trợ thích đáng từ phía Nhà nước, và doanh nghiệp tư nhân đang khát
nguyên liệu với lâm trường vốn đang giữ nhiều đất và có thể phát triển mạnh
vùng nguyên liệu. Các địa phương cần phải có quy hoạch sẵn những vùng đất rộng
lớn để chào mời doanh nghiệp đến đầu tư, chứ không thụ động chờ doanh nghiệp
đến xin rồi cấp đất nhưng khi ra hiện trường không biết lấy đất đâu mà giao như
một trường hợp đã xảy ra đối với một địa phương ở phía Bắc. Cần đẩy mạnh tiến
độ cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, có chính sách mở rộng các hình thức
đấu thầu, cho thuê đất… Theo tính toán sơ bộ, hiện nay Việt Nam cần ít nhất 40,000
tấn song mây các loại cho chế biến hằng năm. Nếu mỗi ha cho khai thác bền vững
bình quân 3,5 tấn/năm thì phải cần hơn 12,000 ha mây các loại phục vụ cho chế
biến trong nước. Riêng ở khu vực Đồng bằng sông Hồng nơi tập trung 65% cơ sở
chế biến TTCN-TCMN thì việc thiết lập khoảng 8000 ha cho khu vực này là một
điều rất bức thiết và hoàn toàn không thừa. Hiện nay mây được trồng thử nghiệm
trên toàn quốc nhưng vùng mây tự nhiên nổi tiếng lâu nay vẫn là các tỉnh miền
Trung, Tây Nguyên và gần đây là mây trồng trên đất ruộng với thu nhập cao ngất
trời (28 triệu đồng/ha/năm) ở Thái Bình.
Về vốn thì phải nói đây là một vấn
đề gay cấn trong thời điểm hiện nay. Trước đây lãi suất cho vay trồng rừng
nguyên liệu hiện nay khi mà lãi suất huy động của các ngân hàng đăng tăng lên,
vốn vay cho trồng rừng nguyên liệu lại càng khó hơn. Hiện nay người dân vẫn rất
khó tiếp cận với vốn vay để trồng rừng. Ngoài nguồn vốn tự có và vốn ứng trước
từ doanh nghiệp, đa số các hộ dân khó tiếp cận trực tiếp các nguồn vốn vay, mà
thường phải qua bảo lãnh của một doanh nghiệp. Cũng từ kinh nghiệm Trung quốc
cho thấy một chương trình tín dụng đặc biệt cho việc trồng tre nứa cũng đã được
triển khai với mức vay là 545 USD/ha đã thật sự là một đòn bẩy ngoạn mục giúp
nền công nghiệp mây tre phát triển.
Khoa học công nghệ liên quan đến
trồng, thu hoạch và chế biến mây tre ở nước ta hiện nay cũng chưa phát triển.
Hiện nay Trung Quốc đã đa dạng hoá các sản phẩm từ tre nứa như chế biến than
hoạt tính, bia, dược liệu...Vì thế mà nhu thập từ 1 ha tre nứa lên đến con số
ngoạn mục là 15,000 USD Mỹ/năm. Ở nước ta hiện chưa có nhiều nghiên cứu về
giống mà quan trọng nhất là xây dựng bộ sưu tập giống mây tre thương mại. Đặc
biệt là trong nghiên cứu chế biến tổng hợp - để tăng tỷ lệ sử dụng nguyên liệu vốn
rất thấp hiện nay – là một nhu cầu rất bức thiết. Một vấn đề nữa là hàng mỹ
nghệ mây tre đan không phải là mặt hàng thiết yếu hằng ngày do đó cầu thị
trường phụ thuộc rất nhiều vào sự tinh tế, tính thẩm mỹ, đa dạng và giá cả của
sản phẩm. Do đó cần phải có tính sáng tạo trong thiết kế những sản phẩm này để
làm sao kích thích tính hiếu kỳ của khách hàng và tính ham muốn phải sở hữu
được một sản phẩm mây tre đan. Do đó bên cạnh đầu tư vào khoa học công nghệ
giống, trồng, khai thác và đa dạng hoá về chế biến, việc đầu tư nghiên cứu, đào
tạo về thiết kế sản phẩm, đa dạng hoá sản phẩm này cũng là giải pháp hết sức
quan trọng trong việc xác định một chiến lược phát triển ngành hàng mây tre đan
Việt. Với truyền thống ngành da giày hàng trăm năm của Ý và xìgà của Cuba, ngày
nay những sản phẩm cao cấp thuộc những thương hiệu da giày nổi tiếng của Ý và
những điếu xìgà với giá hàng trăm đô-la thì chỉ có người giàu và nổi tiếng mới
sở hữu được. Với phương châm như thế, mặt hàng mỹ nghệ mây tre đan cũng cần có
một sự chuẩn bị cho sự đột phá từ lượng sang chất.
Ông Đỗ Xuân Đức trong vườn mây của ông ở xã Bình Minh, Kiến Xương, Thái Bình
Lao động cho ngành công nghiệp mây tre hiện nay cũng tồn tại
nhiều bất cập. Muốn bán được nguyên liệu thì khâu chế biến phải phát triển, do
đó việc đào tạo lao động và tay nghề phải kết hợp cả khâu xây dựng vùng nguyên
liệu và chế biến sản phẩm.Về lao động hiện nay ở nông thôn khá dồi dào và đa
dạng, từ lao động ngoài mùa vụ cho đến lao động của người khuyết tật. Tuy
nhiên, chính cái sự dồi dào về lao động ấy cộng với đức tính tham công tiếc
việc ấy đã làm cho một số nhà nhập khẩu gần đây phàn nàn về chất lượng sản
phẩm. Phải nói lao động mây tre đan hiện nay chia ra hai nhóm rõ rệt, một nhóm
là không thường xuyên và thiếu kỹ năng và một nhóm là thường xuyên và kỹ năng
cao. Nhóm thứ nhất thường làm những sản phẩm đan lát đơn giản và không hoặc ít
có đào tạo bài bản. Nhóm thứ hai thường làm việc ở các cơ sở hoặc các doanh
nghiệp chế biến hàng mỹ nghệ cao cấp. Để có một sự đột phá về lượng thì cần
phải đào tạo nhiều và mạnh hơn đối với nhóm thứ nhất và đào tạo bài bản với
tính sáng tạo cao để tạo ra sự đột phá về chất như đã giới thiệu trên.
Với những bằng chứng nói trên phải
nói rằng ngành nghề mây tre đan nước ta đang đứng trước những cơ hội to lớn.
Vấn đề còn lại là phải xây dựng khẩn trương những giải pháp đồng bộ từ khâu
nguyên liệu đến chế biến và xuất khẩu cuối cùng. Đặc biệt là trong khâu xây
dựng nguyên liệu thì cần có các giải pháp chính sách về đất, vốn, lao động, thị
trường, phát triển cơ sở hạ tầng miền núi và khoa học công nghệ để làm sao vừa
thể hiện quyết tâm chính trị của Nhà nước vừa tạo môi trường pháp lý thuận lợn
nhất nhằm thu hút các nguồn vốn đầu tư của tư nhân và ngoài nước để thúc đẩy
ngành nghề mây tre đan phát triển. Một cơ hội tốt đang chờ một hành động cụ
thể.

